[cz] [en] [vn]
Effective waste management for Vietnam

Waste management in Vietnam

QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Ở VIỆT (WM in Vietnam)

 

Phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường luôn là ba nội dung không thể tách rời trong mọi hoạt ðộng nhằm bảo ðảm phát triển bền vững. Theo dự báo, Việt hiện sẽ là một trong những nước có tốc ðộ phát triển kinh tế nhanh nhất trên thế giới với tốc ðộ tãng trưởng ðược dự báo là  7% trong thập kỷ tới. Sự tãng trưởng mạnh mẽ này ðã giúp hơn 20 triệu người dân Việt Nam thoát ðược cảnh nghèo ðói trong vòng chưa ðầy 1 thập kỷ qua.Tuy nhiên, tãng trưởng kinh tế một cách nhanh chóng và mạnh mẽ cũng ðồng thời sẽ tạo nên những thách thức không lường trước ðược về mặt môi trường, như gây ra các tác ðộng nghiêm trọng ðối với sức khoẻ và môi trường, ðặc biệt là ở các vùng công nghiệp và ðô thị mới.

 

Chất thải rắn là vấn ðề ðang nổi cộm ở Việt . Mỗi nãm, khoảng hơn 15 triệu tấn chất thải phát sinh trong cả nước và theo dự báo thì tổng lượng chất thải rắn phát sinh trong nước vẫn tiếp tục tãng lên nhanh chóng trong thập kỷ tới ðây. Các vùng ðô thị, với dân số chiếm khoảng 24% dân số cả nước, phát sinh mỗi nãm hơn 6 triệu tấn chất thải (hay xấp xỉ 50% tổng lượng chất thải sinh hoạt của cả nước). Theo ước tính, ðến nãm 2010, tổng lượng chất thải sinh hoạt phát sinh sẽ tãng lên 60%. Hơn nữa, quá trình mở rộng các khu ðô thị cùng với phát triển công nghiệp mạnh mẽ và hiện ðại hoá các cơ sở y tế, khám chữa bệnh sẽ làm tãng ðáng kể lượng chất thải nguy hại phát sinh mà nếu không ðược xử lý một cách phù hợp sẽ có khả nãng  gây ra những  ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khoẻ.


Việt Nam cũng ðã có những biện pháp ðáp ứng với một khung pháp lý tốt, kế hoạch ðầu tư nãng ðộng với sự hỗ trợ của nhiều nhà tài trợ và tập trung vào mục tiêu nâng cao chất lượng của các dịch vụ ở cấp ðịa phương, ðặc biệt là ở các thành phố chính. Tuy nhiên, ðể ðạt ðược các mục tiêu quốc gia về quản lý và tiêu huỷ chất thải rắn theo phương thức có tính chi phí - hiệu quả cao và an toàn thì ðòi hỏi phải huy ðộng, gắn kết và tập hợp ðược nỗ lực của mọi thành phần: các cơ quan Chính phủ, các cơ sở công nghiệp, các bệnh viện, các cơ sở kinh doanh, sản xuất và xử lý chất thải rắn và người dân.

 

Theo dự báo, trong bối cảnh tãng trưởng kinh tế với tốc ðộ nhanh chưa từng thấy ở Việt Nam, lượng phát sinh chất thải từ các hộ gia ðình, các cơ sở công nghiệp và thương mại, các bệnh viện sẽ tãng lên nhanh chóng trong thập kỷ tới ðây. Quản lý lượng chất thải này là một thách thức to lớn  và là một trong những dịch vụ môi trường ðặc biệt quan trọng ðối với Việt Nam không chỉ vì chi phí cho hoạt ðộng này rất lớn mà còn vì những lợi ích to lớn  và tiềm tàng ðối với sức khoẻ cộng ðồng và ðời sống của người dân. Ðiều này cũng rất quan trọng ðối với việc nâng cao chất lượng sống cho phần lớn dân nghèo ở Việt Nam, là những người dễ phải chịu những ảnh hưởng không tốt ðối với sức khoẻ do công tác quản lý chất thải chưa phù hợp và là những người mà nguồn sinh kế của họ phải phụ thuộc rất nhiều vào các hoạt ðộng thu gom và tái chế chất thải thuộc khu vực phi chính thức. Nhận thức rõ ðược những tác ðộng về kinh tế và xã hội do công tác quản lý chất thải yếu kém, Chính phủ Việt Nam ðang cố gắng tập trung mọi nỗ lực nhằm giải quyết các vấn ðề liên quan bằng cách phối hợp các biện pháp chính sách, tài chính và các hoạt ðộng nâng cao nhận thức và thu hút sự tham gia của người dân.

 

Phát sinh chất thải rắn (Waste Generation)

 

Mỗi nãm, có hơn 15 triệu tấn chất thải rắn phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau ở Việt . Khoảng hơn 80% số này (tương ðương 12,8 triệu tấn/nãm) là chất thải phát sinh từ các hộ gia ðình, các nhà hàng, khu chợ và khu kinh doanh. Tổng lượng chất thải phát sinh từ các cơ sở công nghiệp mỗi nãm khoảng 2,6 triệu tấn (chiếm 17%), do vậy công nghiệp có thể coi là nguồn phát sinh chất thải lớn thứ hai. Khoảng 160.000 tấn/nãm (chiếm 1%) trong tổng lượng chất thải rắn phát sinh ở Việt Nam ðược coi là chất thải nguy hại, trong ðó bao gồm cả chất thải y tế nguy hại, các chất dễ cháy và chất ðộc hại phát sinh từ các quá trình sản xuất công nghiệp, và các loại thuốc trừ sâu, thùng chứa thuốc trừ sâu phục vụ các hoạt ðộng nông nghiệp. Mặc dù là phát sinh với lượng ít hơn rất nhiều, song nếu không ðược quản lý tốt thì với các tính chất ðộc hại, khả nãng gây ung thư, tính nguy hại ðối với sức khoẻ và các tính chất nguy hại khác, chất thải nguy hại ðang là mối hiểm hoạ lớn ðối với sức khoẻ người dân và môi trường.

 

Chất thải chủ yếu tập trung ở các vùng ðô thị. Các khu ðô thị tuy có dân số chỉ chiếm 24% dân số của cả nước nhưng lại phát sinh ðến hơn 6 triệu tấn chất thải mỗi nãm (tương ứng với 50% tổng lượng chất thải sinh hoạt của cả nước) do có lối sống khá giả hơn, có nhiều các hoạt ðộng thương mại hơn và ðô thị hoá cũng diễn ra ở cường ðộ cao hơn. Chất thải ở các vùng ðô thị thường có tỷ lệ các thành phần nguy  hại lớn hơn như các loại pin, các loại dung môi sử dụng trong gia ðình và các loại chất thải không phân huỷ như nhựa, kim loại và thuỷ tinh. Ngược lại, lượng phát sinh chất thải sinh hoạt của người dân ở các vùng nông thôn chỉ cỡ bằng một nửa mức phát sinh của dân ðô thị (0,3 kg/người/ngày so với 0,7 kg/người/ngày) và phấn lớn chất thải ðều là chất thải hữu cơ dễ phân huỷ (tỷ lệ các thành phần dễ phân huỷ chiếm 99% trong phế thải nông nghiệp và 65% trong chất thải sinh hoạt gia ðình ở nông thôn, trong khi chỉ chiếm cỡ 50% trong chất thải sinh hoạt ở các khu ðô thị).

 

Chất thải công nghiệp chủ yếu tập trung ở các vùng kinh tế trọng ðiểm, khu công nghiệp, ðô thị phát triển. Khoảng 80% trong số 2,6 triệu tấn chất thải công nghiệp phát sinh mỗi nãm là từ các trung tâm công nghiệp lớn ở miền Bắc và miền . Cỡ 50% lượng chất thải công nghiệp của Việt Nam phát sinh ở Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận và 30% phát sinh ở các vùng ðồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ. Thêm vào ðó, gần 1.500 làng nghề mà chủ yếu là tập trung ở các vùng nông thôn miền Bắc mỗi nãm phát sinh cỡ 774.000 tấn chất thải công nghiệp không nguy hại.

 

Chất thải nguy hại là mối hiểm họa ngày càng lớn. Nguồn phát sinh chất thải nguy hại lớn nhất là các cơ sở công nghiệp (với 130.000 tấn/nãm) và các bệnh viện (21.000 tấn/nãm). Ngoài ra, nông nghiệp cũng là nguồn phát sinh chất thải nguy hại, mỗi nãm phát sinh khoảng 8.600 tấn các loại thuốc trừ sâu, bao bì và thùng chứa thuốc trừ sâu và khoảng 37.000 tấn tồn lưu các loại hoá chất nông nghiệp bị thu giữ và thuốc trừ sâu quá hạn sử dụng. Lượng chất thải nguy hại phát sinh ở các vùng khác nhau khác biệt rõ rệt, ðặc biệt là ðối với chất thải nguy hại phát sinh từ hoạt ðộng công nghiệp. Lượng chất thải công nghiệp nguy hại phát sinh từ vùng kinh tế trọng ðiểm phía Nam chiếm tới 75% tổng lượng chất thải công nghiệp nguy hại của cả nước. 27% tổng lượng chất thải y tế nguy hại phát sinh từ Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và Thanh Hoá trong khi ðó chất thải nguy hại từ nông nghiệp chủ yếu phát sinh ở vùng Ðồng bằng sông Cửu Long.

 

Theo dự báo ðến nãm 2010 sẽ có thêm khoảng 10 triệu cư dân sinh sống ở các vùng ðô thị; Tiêu dùng sẽ tãng lên và sản xuất cũng sẽ tãng mạnh với việc phát triển thêm nhiều ngành công nghiệp có tiềm nãng phát sinh nhiều chất thải nguy hại; và các cơ sở y tế sẽ tiếp tục ðược hiện ðại hoá. Những biến ðộng này sẽ làm lượng phát sinh chất thải sinh hoạt tãng thêm 60%; lượng phát sinh chất thải công nghiệp sẽ tãng cỡ 50% và lượng phát sinh chất thải nguy hại sẽ tãng hơn 3 lần, mà chủ yếu là từ các nguồn công nghiệp. Nếu tính ðến chi phí cao cho các hoạt ðộng thu gom và tiêu huỷ chất thải một cách an toàn thì việc triển khai các sáng kiến nhằm giảm thiểu phát sinh chất thải như các chương trình nâng cao nhận thức cộng ðồng, sản xuất sạch hơn và áp dụng các biện pháp khuyến khích về kinh tế dựa trên nguyên tắc “Người gây ô nhiễm phải trả tiền”, chúng ta sẽ tiết kiệm ðáng kể nguồn kinh phí. Ví dụ như, ước tính mỗi nãm sẽ tiết kiệm ðược 200 tỷ ðồng chi cho hoạt ðộng xử lý chất thải sinh hoạt và 130 tỷ ðồng chi cho xử lý chất thải y tế nguy hại nếu thực hiện giảm thiểu ðược 10% lượng chất thải phát sinh.

 

Xử lý chất thải (Waste Handling)

 

Xử lý chất thải, bao gồm các hoạt ðộng tái sử dụng, tái chế, thu gom, xử lý và tiêu huỷ, là khâu rất quan trọng có tính quyết ðịnh ðối với việc tạo lập ðược một hệ thống quản lý chất thải mang tính chi phí - hiệu quả ðể có thể giảm thiểu các rủi ro ðối với môi trường và sức khoẻ người dân. Phần lớn chất thải sinh hoạt ở Việt Nam không ðược tiêu huỷ một cách an toàn, tuy nhiên, hoạt ðộng của các công ty môi trường ðô thị (URENCO), là cơ quan ðược giao trách nhiệm thực hiện thu gom và tiêu huỷ chất thải sinh hoạt, ðã có những cải tổ ðáng kể. Xử lý một cách hợp lý chất thải nguy hại ðược quy ðịnh là trách nhiệm của các cơ sở y tế và công nghiệp phát thải, tuy nhiên việc triển khai thực hiện vẫn còn hạn chế. Tái chế và tái sử dụng chất thải là một ngành công nghiệp nãng ðộng ở Việt Nam, với ðộng lực thúc ðẩy là một mạng lưới những người nhặt rác ở các bãi chôn lấp, các cơ sở thu gom và thu mua chất thải thuộc khu vực phi chính thức.

 

Chất thải sinh hoạt. Tỷ lệ thu gom chất thải sinh hoạt ở các thành phố lớn hơn. Hoạt ðộng thu gom chất thải rắn ở các thành phố ðang ðược cải thiện nhưng ở các vùng nông thôn vẫn còn rất hạn chế. Tỷ lệ thu gom chất thải ở các vùng ðô thị trung bình ðạt khoảng 71% và kể từ nãm 2000, tỷ lệ thu gom ðang tãng dần. Nhìn chung, các thành phố lớn có tỷ lệ thu gom chất thải ðạt ở mức cao hơn (76%) so với các thành phố nhỏ (70%) trong khi ở các vùng nông thôn tỷ lệ thu gom nhìn chung thấp hơn 20%. Một tỷ lệ lớn người nghèo (9 trong số 10 hộ dân nghèo nhất) không ðược hưởng các dịch vụ thu gom chất thải rắn. Hiện ðang có nhiều sáng kiến mới nhằm cải thiện tình trạng thiếu các dịch vụ thu gom chất thải ðô thị. Ví dụ như, các chương trình thu gom chất thải dựa vào cộng ðồng hoặc do khu vực tư nhân ðảm nhiệm ðang ðược triển khai ở các khu vực ðô thị chưa có dịch vụ thu gom chất thải hoặc ở các vùng nông thôn.

 

Các phương thức tiêu huỷ chất thải sinh hoạt ðang ðược cải tiến nhưng vẫn còn là mối hiểm hoạ ðối với sức khoẻ và môi trường. Hình thức tiêu huỷ chất thải phổ biến vẫn là ðổ thải ở các bãi rác lộ thiên và trong số này có 49 bãi rác bị xếp vào số các cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng nhất có khả nãng cao gây ra những rủi ro ðối với môi trường và sức khoẻ con người. Trong số 91 ðiểm tiêu huỷ chất thải trong cả nước, chỉ có 17 ðiểm là các bãi chôn lấp hợp vệ sinh mà phần lớn ðều ðược xây dựng bằng nguồn vốn ODA. Ở nhiều vùng, việc áp dụng các phương pháp tự tiêu huỷ chất thải như ðốt, hoặc chôn chất thải, ðổ bỏ ra các con sông, kênh, rạch và các khu ðất trống khá phổ biến. Các bãi chôn lấp ðược vận hành không ðúng kỹ thuật và các bãi rác lộ thiên gây ra nhiều vấn ðề môi trường cho dân cư quanh vùng như nước rác làm ô nhiễm nguồn nước mặt và nước ngầm, các chất ô nhiễm không khí, ô nhiễm mùi, ruồi, muỗi, chuột, bọ, ô nhiễm bụi và tiếng ồn và làm tãng tỷ lệ người bị mắc các bệnh về da, tiêu hoá và hô hấp.

 

Các hệ thống xử lý chất thải công nghiệp nguy hại còn chưa ðầy ðủ. Việc thiếu các cơ sở xử lý tập trung và các cơ chế khuyến khích ðể thúc ðẩy thực hiện các biện pháp tiêu huỷ an toàn sẽ dẫn ðến tình trạng là các cơ sở công nghiệp hiện vẫn tiếp tục thực hiện các phương pháp xử lý và tiêu huỷ không an toàn như là tiêu huỷ chung với các loại chất thải ðô thị khác, lưu giữ ngay tại cơ sở, bán cho các cơ sở tái chế hoặc thậm chí là ðổ bỏ một cách tuỳ tiện. Ở một số cơ sở công nghiệp quy mô lớn và các khu công nghiệp, hiện ðã có một số nơi bắt ðầu áp dụng các phương thức cùng dùng chung hệ thống xử lý, tiêu huỷ chất thải như các loại lò ðốt ðơn giản, các loại lò hơi công nghiệp hoặc là các cơ sở xử lý chất thải chuyên dụng ở gần cơ sở mình.

 

Nãng lực xử lý chất thải y tế nguy hại ðang ðược tãng cường nhưng bị hạn chế do vận hành không ðúng kỹ thuật. Hiện tại, tổng mức ðầu tư cho việc trang bị các lò ðốt với công suất tổng cộng ðã ðủ ðể ðảm bảo thực hiện thiêu huỷ khoảng 50% tổng lượng chất thải y tế nguy hại. Tuy nhiên, do thiếu kinh phí ðể vận hành và bảo dưỡng các lò ðốt này nên dẫn tới tình trạng không vận hành các lò ðốt theo ðúng quy trình kỹ thuật, do vậy mà làm tãng khả nãng phát thải các loại khí dioxin và furan ðộc hại hoặc thực hiện tiêu huỷ chất thải y tế nguy hại giống như chất thải ðô thị. Cần phải xây dựng và áp dụng cách tiếp cận có tính gắn kết và nhất quán ðối với hoạt ðộng quản lý chất thải rắn y tế.

 

Các hoá chất nông nghiệp tồn lưu ðang ðược xử lý. Gần một nửa lượng chất thải là các hoá chất dùng trong nông nghiệp tồn lưu ở các kho chứa ðã ðược xử lý trong nãm 2002 bằng cách thiêu ðốt hoặc là bằng các kỹ thuật hoá học. Tuy nhiên chi phí xử lý còn cao và các biện pháp xử lý này cũng chưa thực sự thoả ðáng do vẫn còn tạo ra các loại bùn, tro, khí thải có nhiều khả nãng gây ra các rủi ro về môi trường như các kim loại nặng, các chất dioxin và furan.

 

Tái sử dụng và tái chế chất thải (Waste reuse and recycling)

 

Tái chế chất thải là phương thức xử lý khá phổ biến ở Việt . Các hộ gia ðình thường có thói quen chọn các loại chất thải có khả nãng tái chế ðược như kim loại và giấy ðể bán cho những người thu mua ðồng nát hoặc là bán thẳng cho các cơ sở thu mua trong vùng. Các loại chất thải có khả nãng tái sử dụng và tái chế còn ðược những người làm nghề thu nhặt rác, phân loại và sau ðó ðem bán cho các cơ sở tái chế. Thị trường tái chế ở Việt khá sôi ðộng mà phần lớn là do khu vực phi chính thức kiểm soát. Ví dụ ở Hà Nội thị trường này cho phép thực hiện tái chế với khoảng 22% lượng chất thải phát sinh. Trong lĩnh vực công nghiệp, một số ngành công nghiệp có khả nãng thực hiện tái chế ðược ðối với 80% lượng chất thải của ngành. Những người thợ thủ công mỹ nghệ và công nhân làm việc trong các làng nghề ðã rất thành công trong việc tái chế và tái sử dụng trên 90% chất thải rắn có khả nãng tái chế ðược của cơ sở mình. Hàng nãm, sẽ có khả nãng tiết kiệm ðược một khoản kinh phí rất lớn do không phải chi phí cho hoạt ðộng tiêu huỷ lượng chất thải tái chế ðược này. Ví dụ như mỗi nãm sẽ tiết kiệm ðược khoảng 54 tỷ ðồng nếu như mỗi cơ sở công nghiệp thuộc 6 ngành công nghiệp chủ chốt tiến hành tái chế ðược khoảng 50% tổng lượng chất thải có khả nãng tái chế ðược của cơ sở mình, và tiết kiệm ðược 200 tỷ ðồng nếu như giảm thiểu ðược 10% lượng phát sinh chất thải sinh hoạt.

 

Thị trường các chất thải tái chế ðược rất có tiềm nãng mở rộng. Ở Việt Nam, khoảng hai phần ba tổng lượng chất thải sinh hoạt (tương ðương với 2,1 triệu tấn/nãm) hiện ðang ðược ðem tiêu huỷ ở các ðịa ðiểm tiêu huỷ chất thải tại các khu ðô thị, là các chất thải có khả nãng tái chế ðược như giấy, nhựa, kim loại và thuỷ tinh. Nếu tiến hành tái chế với lượng chất thải này  thì sẽ có khả nãng giảm một cách ðáng kể chi phí tiêu huỷ chất thải và tạo cơ hội giúp khu vực phi chính thức và rất nhiều người nghèo có thêm nguồn thu từ việc bán các vật liệu tái chế. Chỉ riêng ở Thành phố Hồ Chí Minh, ước tính doanh số thu ðược từ hoạt ðộng tái chế mỗi nãm có thể lên ðến gần 135 tỷ ðồng.

 

Thành phần chất thải ở Việt rất có tiềm nãng ðối với việc chế biến phân compost. Tỷ lệ chất hữu cơ trong chất thải sinh hoạt cao là yếu tố thuận lợi cho việc thực hiện chế biến chất thải thành phân compost mà nhờ ðó có thể giảm thiểu ðược chi phí tiêu huỷ nếu như sản xuất ðược các loại phân bón phù hợp với các ðiều kiện thị trường, ví dụ ðể sử dụng trong nông nghiệp và cho các ðối tượng cộng ðồng khác. Tuy nhiên, hoạt ðộng này vẫn còn chưa ðược phổ biến rộng rãi do rất nhiều nguyên nhân khác nhau, trong ðó bao gồm cả vấn ðề chất lượng nguyên liệu ðầu vào cho chế biến phân còn kém và các hoạt ðộng tiếp thị chưa ðược thực hiện tốt. Cùng với việc thúc ðẩy phát triển thị trường phân compost và thực hiện thành công phân loại chất thải tại nguồn thì chắc chắn hiệu quả triển khai các cơ sở chế biến phân compost tập trung sẽ tãng lên ðáng kể.

 

Người nghèo tham gia trong các hoạt ðộng tái chế của khu vực phi chính thức vẫn phải chịu rủi ro.  Nếu tính về tỷ lệ người dân làm nghề nhặt rác so với tổng dân số thì quy mô của hoạt ðộng thu nhặt rác thuộc khối phi chính thức của Hà Nội tương ðương với Jakarta và Bangalore và gấp ðôi so với Manila . Khoảng hơn hai phần ba người làm nghề nhặt rác là phụ nữ, những người có khả nãng kiếm ðược ít tiền hơn so với nam giới làm việc trong lĩnh vực này và 9% số người nhặt rác là trẻ em. Ðây là các nhóm ðối tượng thường là sống cách biệt với xã hội và có mặt thường xuyên hoặc là sinh sống ở gần các các ðịa ðiểm tiêu huỷ chất thải và do ðó phải chịu nhiều rủi ro về môi trường và các ðiều kiện không an toàn. Hiện ðang triển khai một số chương trình tín dụng nhỏ ðể giúp tãng thu nhập cho những người làm nghề nhặt rác thuộc giới nữ và giảm số trẻ em phải kiếm sống bằng nghề nhặt rác. Tuy nhiên, cần phải nỗ lực nhiều hơn  nữa ðể có thể hỗ trợ cho các hoạt ðộng kinh tế chất thải thuộc khu vực phi chính thức.

 

Các vấn ðề về quản lý (Management Issues)

 

Việt ðã áp dụng một khung pháp lý tốt về bảo vệ môi trường và quản lý chất thải, mặc dù vẫn còn rất nhiều rào cản ðối với việc thực thi hiệu quả khung pháp lý này. Khung thể chế bao gồm các công ty môi trường ðô thị với vai trò là các ðơn vị cung cấp dịch vụ quản lý chất thải sinh hoạt ở cấp ðịa phương. Hệ thống cơ quan quản lý cả ở trung ương và ðịa phương mà Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan giữ vai trò chỉ ðạo với trách nhiệm chỉ ðạo và giám sát việc thực hiện công tác quản lý chất thải của các cơ sở công nghiệp, các bệnh viện và công ty môi trường ðô thị. Một số chiến lược mới ðã dẫn tới tằng mạnh ðầu tư cho lĩnh vực này, ðặc biệt là ðối với quản lý chất thải sinh hoạt. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại những yếu kém.

 

Các công ty môi trường ðô thị mặc dù là có ðủ nhân lực thực hiện các nhiệm vụ ðược giao song lại thiếu trang thiết bị và vốn, không có ðủ cán bộ ðược ðào tạo chuyên sâu về quản lý chất thải rắn và thiếu sự phân công nhiệm vụ giữa các cơ quan ðể quản lý chất thải theo phương thức chi phí - hiệu quả. Do tập trung mọi nỗ lực của công ty cho hoạt ðộng dịch vụ quản lý chất thải sinh hoạt nên trang thiết bị và kỹ nãng của các công ty môi trường ðô thị ðể thực hiện các dịch vụ thu gom và tiêu huỷ chất thải nguy hại cho các cơ sở công nghiệp và bệnh viện còn hạn chế.

 

Hiệu lực thi hành các vãn bản quy phạm pháp luật còn chưa hiệu quả. Nãng lực thể chế và nguồn lực ðể thực thi khung chính sách của Việt Nam hiện ðang thiếu ở các cấp tác nghiệp, và các vãn bản quy phạm pháp luật còn chưa ðược cưỡng chế thi hành hiệu quả. Các quy ðịnh ðối với các cơ sở quản lý chất thải, các cơ sở công nghiệp, các bệnh viện do Bộ Tài nguyên và Môi trường và các cơ quan bộ/ngành khác (Bộ Y tế, Bộ Công nghiệp, Các ban quản lý khu công nghiệp) ban hành còn chưa ðược cưỡng chế thực thi ðầy ðủ và chưa giám sát ðược việc thực hiện hoạt ðộng quản lý chất thải do thiếu nhân lực, phân công chức nãng nhiệm vụ không rõ ràng, vai trò của các cơ quan chính phủ còn bị chồng chéo và còn manh mún, hạn chế trong việc ðiều phối giữa các cơ quan. Do vậy, dẫn ðến tình trạng thiếu các cơ chế khuyến khích ðối với việc vận hành ðúng kỹ thuật các bãi chôn lấp, các cơ sở công nghiệp ðầu tư cho các hệ thống xử lý chất thải và vì thế ðã tạo ðiều kiện cho việc áp dụng các phương pháp tiêu huỷ chất thải rẻ tiền, không an toàn như là ðổ thải ở các bãi rác lộ thiên.

 

Ngân sách cho quản lý chất thải ðã tãng hơn 5 lần từ 195 tỷ ðồng nãm 1998 lên ðến 1.083 tỷ ðồng nãm 2003, và theo dự báo vẫn tiếp tục tãng. Theo dự kiến kế hoạch phát triển các bãi chôn lấp, trong giai ðoạn từ nay ðến nãm 2020, sẽ dành khoảng 30 ðến 40 nghìn tỷ ðồng cho việc xây dựng các bãi chôn lấp hợp vệ sinh, tiến hành ðóng cửa các bãi rác lộ thiên không an toàn và ðầu tư thêm kinh phí cho các lò ðốt chất thải y tế. Tuy nhiên, tính bền vững của các hoạt ðộng ðầu tư này hiện vẫn ðang là vấn ðề phải bàn cãi do kinh phí dành cho việc vận hành và duy trì các hệ thống thu gom và tiêu huỷ chất thải quá ít (chiếm 0,18% GNP, tương ðương mức chi 160.000 ðồng/tấn) và tổng thu từ các loại phí liên quan chỉ có khả nãng ðảm bảo trang trải 50% tổng kinh phí cho cho các hoạt ðộng vận hành, duy tu và bảo dưỡng các hệ thống thu gom và tiêu huỷ chất thải rắn hiện có. Mặc dù ðược bao cấp rất lớn từ ngân sách trung ương và ðịa phương (400 tỷ ðồng trong nãm 2003) nhưng vẫn chưa có ðủ các nguồn lực cần thiết, ðặc biệt là cho các hoạt ðộng tiêu huỷ chất thải nên dẫn ðến tình trạng là các ðịa ðiểm tiêu hủy chất thải hiện ðang ðược vận hành và duy tu, bảo dưỡng không ðúng kỹ thuật và không an toàn. Ở nhiều thành phố, cỏ thể cải thiện ðược tỉ lệ thu hồi chi phí thông qua việc thu phí có hiệu quả hơn và ký kết hợp ðồng dịch vụ với các sở/ban/ngành chức nãng của thành phố. Ở các thành phố khác, có thể cũng cần tãng phí chất thải, một biện pháp thường bị ngần ngại ở nhiều ðịa phương.

 

Vai trò của xã hội dân sự trong công tác quản lý chất thải còn hạn chế.  Các cộng ðồng dân cư và các nhóm tư nhân hiện tại ít có vai trò trong hệ thống quản lý chất thải rắn. Ðể giải quyết tình trạng này, Chính phủ ðã và ðang xây dựng các chính sách và các chương trình thúc ðẩy sự tham gia của cộng ðồng và thực hiện ngày càng nhiều các chương trình nâng cao nhận thức cộng ðồng nhằm giúp cải thiện các hoạt ðộng thu gom chất thải và các dịch vụ khác như quét dọn ðường phố. Các chương trình khuyến khích người dân tự nguyện tham gia làm vệ sinh ðường phố, các chiến dịch nâng cao nhận thức cho cộng ðồng về vấn ðề vệ sinh ðã bắt ðầu ðược ðẩy mạnh ở Việt.

copyright waste-viet.com last update 17. 12. 2008